
Một cuốn album. Một quyển lịch bàn. Một chiếc sofa. Một cái tủ lạnh. Một chiếc đồng hồ treo tường. – Nếu mình đưa cho thầy cô các món đồ này (nhà nào cũng có) và nói: dạy ngữ pháp tiếng Anh đi, thì thầy cô sẽ nghĩ tới điểm ngữ pháp nào?
Những vật dụng tưởng như chẳng liên quan gì đến việc dạy ngữ pháp, mà lại được dùng để dẫn nhập vô ngữ pháp mượt … hơn sunsilk. Tin được không?
Thầy cô chắc chắn đã từng thử dùng hình ảnh để “dẫn” học sinh vào bài. Nhưng có khi kết quả lại là:
– học sinh không hiểu vì sao cô/thầy đưa hình đó,
– học sinh vẫn không tự notice được cấu trúc,
– giáo viên phải quay lại giảng giải theo kiểu truyền thống.
Tức là như mình hay nói “trúng tủ, nhưng không có chìa khóa”
Vậy cuốn album, lịch, sofa, tủ lạnh, cánh cửa… liên quan gì đến các thì và cấu trúc?

Album là những khoảnh khắc đã đóng lại : mình sẽ dùng nó để dẫn dắt vô Past Simple.

Lịch là những ngày chưa xảy ra, tuyệt vời cho thì Future Simple.

Sofa là thói quen, là sự ổn định nên quá hạp cho thì Present Simple.

Đồng hồ là sự chuyển động liên tục, cái này lúc nào cũng xuất hiện trong thì Present Continuous.

Tủ lạnh là nơi trữ đồ ăn ngày này qua tháng nọ, nơi những thứ từ trước tới giờ vẫn còn cho nên nó là hình ảnh ẩn dụ để dạy thì Present Perfect Continuous.
Biết những ẩn dụ này mới là lé-vồ khởi động thôi, câu hỏi thật sự là:

Làm sao để chọn đúng ngữ cảnh (context) ?

Làm sao để từ một hình ảnh nhỏ, giáo viên dẫn học sinh đến đúng điểm ngữ pháp cần notice?

Làm sao để context không chỉ hay mà còn chính xác, tiết kiệm thời gian, giảm tải nhận thức (cognitive overload) và tạo meaningful exposure?
Đây là thứ mà 16 năm qua mình thấy giáo viên mất nhiều nhất: công sức tạo context nhưng học sinh vẫn không “vào bài”.
Và đó là lý do mình muốn chia sẻ 3 nguyên tắc nền tảng mà giáo viên có thể áp dụng ngay:

3 TIPS ĐỂ GIÁO VIÊN LÀM CHỦ CONTEXT (áp dụng được ngay ngày mai)

Context phải “tạo được câu hỏi”, không chỉ minh họa. Nếu một hình ảnh không khiến học sinh tò mò hoặc muốn đoán thì phải coi lại, tém tém bớt phần trình diễn, context đó không kích hoạt input processing rồi!

Context phải bám meaning trước, form sau: khổ nỗi mình hay thấy Giáo viên hay đi ngược: đưa rule trước rồi tìm ví dụ sau. Nếu có thể đưa meaning (make sense) lên trước, sẽ giúp học sinh notice tự nhiên và nhanh hơn.

Context phải dẫn vào đúng mental model của cấu trúc. Ngữ pháp không phải câu chữ , thực ra nó là tư duy. Cho nên mình mới chọn hình ảnh ẩn dụ: Album = finished events, Sofa = routines. Nếu mental model sai có thể dẫn tới học sinh nhớ sai.
Tới đây tự nhiên thấy xịn xịn hơn xíu he, vì lé-vồ có tăng hơi rồi. Và tất nhiên, đó mới chỉ là phần bề nổi. Để thật sự làm chủ contextualisation, giáo viên cần lên tiếp le-vồ hiểu sâu hơn về:
– các loại context (situational, textual, schema, semantic field, task-context),
– cơ chế input processing ( VanPatten),
– cách gắn context với thang GSE để đảm bảo đúng năng lực tiếp nhận của học sinh,
– cách viết contextualised introduction cho từ vựng, ngữ pháp, đọc, hay nghe.
Để lại một bình luận